Đo mật độ xương, giúp phát hiện và điều trị sớm bệnh loãng xương

Rate this post

Kết quả tầm soát cho thấy 50% người Việt trên 40 tuổi có nguy cơ loãng xương. Đo mật độ xương giúp phát hiện sớm và điều trị hiệu quả bệnh lý này.


Kết quả tầm soát mật độ xương tại Việt Nam

Kết quả khảo sát về mật độ xương của gần 100.000 người dân Việt Nam trong giai đoạn 2023-2024, do Viện Dinh dưỡng Quốc gia thực hiện, cho thấy khoảng 50% người từ 40 tuổi trở lên đang có nguy cơ mắc bệnh loãng xương, và 27% trong số đó đã bị loãng xương. Các chuyên gia cho biết, loãng xương là một rối loạn chuyển hóa xương, dẫn đến giảm khối lượng và chất lượng xương, khiến xương trở nên giòn, mỏng manh và dễ gãy, ngay cả khi không có chấn thương. Một trong những phương pháp chính xác nhất để chẩn đoán bệnh loãng xương là đo mật độ xương, điều này giúp phát hiện sớm và can thiệp kịp thời để điều trị bệnh hiệu quả.

Trường hợp bệnh nhân loãng xương tại bệnh viện

Bà P.T.S, 70 tuổi, đến từ tỉnh Trà Vinh, đã quay lại bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long để tái khám và điều trị loãng xương. Bà nhớ lại khoảng 3 năm trước, bà đã gặp phải cơn đau đột ngột và dữ dội ở vùng lưng, gây khó khăn trong việc di chuyển, khiến bà không thể ngồi hay đi lại được.

Chẩn đoán và điều trị bệnh loãng xương

Các bác sĩ tại bệnh viện đã chỉ định bà thực hiện chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng, đo mật độ xương, xét nghiệm máu và đo điện tim. Kết quả cho thấy bà đã bị loãng xương nặng, với nhiều đốt sống ngực và thắt lưng bị gãy lún. Bà được điều trị bằng cách truyền thuốc chống loãng xương, kết hợp với các loại thuốc giảm đau và canxi. Sau một tuần điều trị, bà được xuất viện và hướng dẫn theo dõi ngoại trú. Ba tháng sau, tình trạng đau lưng của bà đã cải thiện rõ rệt, bà có thể tự đi lại và chăm sóc bản thân. Hiện tại, bà vẫn tiếp tục thực hiện chế độ ăn giàu canxi, tập luyện thể dục thường xuyên và tái khám định kỳ cũng như truyền thuốc chống loãng xương mỗi năm một lần trong vòng 3-5 năm.

Tái khám và cải thiện sức khỏe của bà S

Vào tháng 10 năm 2024, bà S đã đến tái khám lần thứ ba để truyền thuốc chống loãng xương. Hiện tại, sức khỏe của bà đã ổn định, bà không cần sử dụng thuốc giảm đau và cảm thấy xương khớp của mình ít đau nhức hơn rất nhiều so với ba năm trước khi bà mới phát hiện bệnh.

Nhận thức về bệnh loãng xương

Bác sĩ CKI Ngô Thị Yến Nhi từ Khoa Ngoại thần kinh – Cơ xương khớp của bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ Cửu Long cho biết, bệnh loãng xương thường không được chú ý đúng mức do diễn tiến âm thầm và không có triệu chứng rõ ràng cho đến khi xảy ra gãy xương. Gãy xương, đặc biệt ở vùng hông và đốt sống, là một trong những biến cố nghiêm trọng nhất liên quan đến loãng xương, gây ra đau đớn, nguy cơ tàn phế và thậm chí tử vong.

Thống kê về gãy xương và tác động của loãng xương

Theo thống kê từ Hội Loãng xương Quốc tế, khoảng 25% bệnh nhân gãy xương vùng hông sẽ tử vong trong năm đầu tiên, 20% cần chăm sóc y tế lâu dài, và 30% không thể trở lại làm việc sau khi gãy xương. Sau khi bị gãy, người bệnh luôn có nguy cơ tái gãy xương nếu không có biện pháp điều trị tích cực. Vì vậy, các bác sĩ khuyến cáo mọi người cần nâng cao nhận thức trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh loãng xương.

Triệu chứng và đối tượng cần tầm soát

Những triệu chứng dễ nhận thấy nhất là sự giảm chiều cao và đau lưng. Các đối tượng có nguy cơ cao mắc loãng xương bao gồm: người lớn tuổi (nữ trên 65 tuổi, nam trên 70 tuổi), tất cả những người đã từng gãy xương sau 50 tuổi, những người sử dụng corticoid kéo dài, hút thuốc lá, uống rượu hoặc bia, những người có thể trạng nhỏ bé, nhẹ cân, mắc bệnh khớp mạn tính (như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lupus ban đỏ hệ thống), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, và bệnh thận mạn tính. Những người thuộc nhóm đối tượng này nên được thăm khám để tầm soát và điều trị loãng xương kịp thời. Đối với những bệnh nhân đang điều trị, việc sử dụng thuốc đúng cách và liên tục là rất quan trọng nhằm giảm nguy cơ gãy xương và tái gãy xương.

Nguồn thông tin được tham khảo từ: Báo Cần Thơ
Nội dung được biên tập bởi: yduoccantho.vn